Tên tác giả, lớp: Bùi Thị Loan, 56B1-CTXH

Người hướng dẫn: ThS. Phùng Văn Nam

1. Mở đầu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi nhưng chủ yếu nhằm thu thập dữ liệu, đánh giá về tình hình sức khỏe, y tế, bệnh tật, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội cho người cao tuổi; từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục những tồn tại có liên quan; và được nghiên cứu dưới các góc độ y học, xã hội học. Với nghiên cứu sâu về các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, dưới góc độ công tác xã hội này, hy vọng sẽ góp thêm văn liệu cho nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài này.

- Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Già hóa dân số cùng với mặt trái của xã hội trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng được coi là một thành tựu lớn, chứng minh sự cải thiện đáng kể về y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, già hóa dân số cũng đã khiến cho hệ thống an sinh xã hội nói chung, hệ thống chăm sóc sức khỏe nói riêng chưa kịp hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội của đất nước, phần lớn người NCT có cuộc sống ổn định về vật chất, tinh  thần. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận NCT đang phải lao động kiếm sống, sống cô đơn và đối mặt với nhiều nguy cơ bất lợi cho sức khỏe. Người cao tuổi Việt Nam hiện nay có tỷ lệ ốm đau cao, tình trạng khỏe mạnh thấp. Trung bình mỗi người phải chịu 14 năm bệnh tật trong tổng số 73 năm trong cuộc sống.

Người cao tuổi được xem như vốn quý của xã hội bởi những đóng góp của họ về kinh nghiệm, kiến thức cho sự phát triển, đồng thời là động lực tinh thần cho các thế hệ mai sau và là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình. Với truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “kính già, trọng lão” tốt đẹp của dân tộc ta. Trên cơ sở đó, quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho NCT sẽ trở thành mô hình ứng xử của thế hệ sau đối với thế hệ trước, tiếp tục di dưỡng và phát triển hệ giá trị văn hóa tốt đẹp của đất nước. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước, chính quyền các địa phương nói chung và xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng đã có nhiều giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc sức khỏe dành cho NCT như: huy động các tổ chức và cá nhân tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế… Tuy nhiên, hiện nay các hoạt động chăm sóc sức khỏe dành cho NCT vẫn còn nhiều hạn chế về chất lượng, dẫn đến việc chăm sóc sức khỏe cho nhóm đối tượng khó khăn, yếu thế này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra. Chính vì vây, việc đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT hiện nay là một yêu cầu bức thiết cần đặt ra đối với địa phương.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn: “Các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu.

- Mục tiêu: Tìm hiều về thực trạng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT; từ đó, khai thác các hoạt động của công tác xã hội để nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT.

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Phân tích tài liệu: Thu thập, tìm hiểu và phân tích các tài liệu thứ cấp, bao gồm: bài giảng, giáo trình công tác xã hội và công tác xã hội với người cao tuổi; bài viết trên sách báo, tạp chí; báo cáo, luận văn, luận án; số liệu thống kê, kết quả điều tra khỏa sát... về người cao tuổi và các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.

+ Phỏng vấn bằng bảng hỏi: Trên cơ sở danh sách người cao tuổi hiện có ở địa phương, chúng tôi tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên, thuận tiện 150 mẫu để tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi. Nội dung thông tin cần thu thập: nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi; thực trạng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi; sự hài lòng của người cao tuổi về các hoạt động chăm sóc sức khỏe hiện nay.

+ Phỏng vấn sâu: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng, bao gồm: người cao tuổi, lãnh đạo chính quyền địa phương, cán bộ hội người cao tuổi, cán bộ trạm y tế, liên quan đến các nội dung: tình trạng sức khỏe của người cao tuổi, các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi trên địa bàn, gii pháp của địa phương trong việc nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tui...

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

+ Khách thể nghiên cứu: người cao tuổi, gia đình, lãnh đạo UBND xã, cán bộ chính sách, cán bộ thôn xóm...

+ Phạm vi nghiên cứu: phạm vi thời gian: tháng 01/2017 đến tháng 12/2017; phạm vi không gian: xã Hưng Hòa, Thành phố Vinh.

2. Nội dung nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu đạt được

- Chân dung người cao tuổi ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Nhóm tuổi từ 70 – 79 chiếm 42 % (chiếm tỷ lệ cao nhất); nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao thứ hai là từ 60 – 69 tuổi với 38,6%; nhóm tuổi từ 80 trở lên có tỷ lệ 19,4%.

Tỷ lệ NCT trình độ Trung học cơ sở chiếm cao nhất 36,0%; NCT đã học hết bậc tiểu học là 22,0%; bên cạnh đó tỷ lệ NCT chưa học hết tiểu học tương đối cao chiếm 13,3%; tỷ lệ người mù chữ cũng chiếm 6,7%, trong khi các cấp bậc cao hơn có tỷ lệ khá khiêm tốn như trung học phổ thông (10,0%), Trung cấp đào tạo nghề (7,3%) hoặc trình độ Cao đẳng/Đại học (4,7%).

S NCT đang sống chỉ hai vợ chồng  chiếm tỷ lệ cao nhất là 36,7%, số người cao tuổi chỉ sống một mình có tỷ  lệ  cao thứ  hai là 22,7%. Mô hình gia đình truyền thống người cao tuổi sống cùng con và cháu chỉ chiếm 15,3%. Người cao tuổi sống cả hai vợ chồng cùng cháu là 10,7%; còn lại có 8% cả hai vợ chồng sống cùng nhà với con; trường hợp không đáng kể chỉ người cao tuổi khuyết vợ/chồng sống với con là 4%, sống với cháu là 2,7%.

Nghề nghiệp trước đây của NCT được điều tra có tới 82,6% làm nông nghiệp,còn lại các ngành nghề như: Cán bộ nhà nước là 6,7%; bộ đội/công an là 4; công nhân có 4,7% và giáo viên 2%.

Về sức khỏe của người cao tuổi, theo số liệu điều tra cho thấy có 52,7% số người cao tuổi tự đánh giá về  tình hình sức khỏe mình là bình thường % đánh giá là kém và chỉ có 1,3% thấy tình hình sức khỏe tốt

- Các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Hoạt động chăm sóc sức khỏe tại trạm y tế còn mang tính thụ động. Cơ sở y tế của xã chưa chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức khám sức khỏe định kỳ một cách thường xuyên nhằm phát hiện bệnh cho NCT. Hoạt động tuyên truyền giáo dục sức khoẻ phổ biến kiến thức về CSSK cho NCT vẫn chưa được thực hiện trong toàn.

Hoạt động của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, bao gồm: thăm hỏi, động viên hội viên đau ốm, điều trị ở bệnh viện hay tại gia đình, hằng năm tới tết cổ truyền… Qua nghiên cứu cho thấy, sự quan tâm của chính quyền địa phương và các tổ chức đối với người cao tuổi thể hiện mức độ quan tâm thăm hỏi chiếm tỷ lệ 33,6% trong đó sự quan tâm của Hội người cao tuổi là nhiều nhất; 11,3% người cao tuổi chưa nhận được sự thăm hỏi, động viên từ các tổ chức, đoàn thể, đa phần là những người hiếm khi tham gia vào các đoàn hội hoặc các CLB tại địa phương.

Hoạt động của gia đình bao gồm: quan tâm, chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi không chỉ thể hiện ở việc chu cấp kinh tế mà còn là sự quan tâm, chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng. Theo thông tin thu thập được thì các thành viên trong gia đình quan tâm đến sức khỏe của NCT ở mức độ thường xuyên là 48,7%; quan tâm ở mức độ bình thường là 41,3%. Bên cạnh đó, vẫn có 5,9% NCT ít khi được sự quan tâm đến sức khỏe của các thành viên gia đình và  0,7% NCT không được chính các thành viên trong gia đình quan tâm đến vấn đề sức khỏe.

- Các giải pháp nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

Để nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần: tăng cường cung cấp thông tin và khám chữa bênh tại cộng đồng cho người cao tuổi; khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng và mở rộng dịch vụ chăm sóc tại nhà; trợ giúp về tiền hoặc vật phẩm và tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi có điều kiện, cơ hội được tham gia vào các hoạt động kinh tế tăng thu nhập.

Trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, nhân viên công tác xã hội đóng vai trò là người tham vấn tâm lý, biện hộ, giáo dục, cung cấp kiến thức, chăm sóc, trợ giúp, huy động, tìm kiếm nguồn lực để trợ giúp cho người cao tuổi

3. Kết luận và kiến nghị:

Với những kết quả nghiên cứu cho thấy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể đã có sự quan tâm đến các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi trên địa bàn, tuy nhiên các hoạt động nhìn chung còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng, trong đó một số hoạt động còn nặng về hình thức.

Với nghiên cứu Các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” sẽ góp góp một phần nhỏ trong việc nâng cao hơn nữa chất lượng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi trên địa bàn, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho nhóm đối tượng này trong xã hội.

4. Tài liệu tham khảo và phụ lục (nếu có).

[1] Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam (2016), Báo  cáo kết quả thực hiện công tác người cao tuổi 2016 và phương hướng nhiệm vụ 2017, Số: 17/BC-UBQGNCT.

[2] UBND xã Hưng Hòa (2016), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017.

[3] Hội NCT xã Hưng Hòa (2017), Báo cáo Tổng kết công tác Hội và phong trào tuổi gương sáng năm 2017 – kế hoạch công tác Hội năm 2018 của Hội NCT xã Hưng Hòa.

[4] Lê Văn Khảm (2014), Vụ BHYT, Bộ Y tế, “Vấn đề về NCT ở việt nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7(80) – 2014.

[5] Giang Thanh Long (2008), “Chính sách xã hội và việc sử dụng cơ sở KCB của NCT Việt  Nam”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 4.

[6] Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) (2012), Giáo trình Công tác xã hội với Người cao tuổi.

[7] Dương Huy Lương (2010), Thực trạng chất lượng cuộc sống của NCT ở huyện nông thôn miền Bắc Việt Nam, Tạp chí Y học thực hành, số 4, tr, 9-12.

[8] Quốc Hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật NCT, Luật số 39/2009/QH12 thông qua ngày 23/11/2009.

[9] Phạm Thắng, Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009), Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam, Tổng cục dân số và kế hoạch hóa gia đình.

[10] Lê Ngọc Lân, “Một số vấn để cơ bản về NCT ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, Viện nghiên cứu Gia đình và giới - Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

[11] Tổng cục dân số và Kế hoach hóa Gia đình, “Nghiên cứu đặc trưng của NCT Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc NCT đang áp dụng”, Tạp chí Dân số và Phát triển (số 5/ 2006).

[12] Hoàng Mộc Lan, “Đời sống tinh thần của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

[13] Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2012), Điều tra Quốc gia về người cao tuổi, NXB Phụ Nữ, Hà Nội.

[14]  Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội.

[15] Nguyễn Sĩ Quốc (1999), Về sức khỏe người cao tuổi.

[16] Trần  Thị  Minh  Thi  và  Cộng  sự  (2014),  Nghiên  cứu  tổng  quan  về  vai  trò gia đình và nhà nuớc trong chăm sóc nguời cao tuổi: Những vấn đề thực tiễn và chính sách.

[17] Chu Quán Hồng, Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. NXB Y học Hà Nội.

 Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNDP), New York và Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi [18] Quốc Tế (HelpAge International), London (2012), Báo cáo tóm tắt: Già hóa trong thế kỷ 21: Thành tựu và thách thức.

[19] Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi Việt Nam thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách.

[20] Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), Một số đặc trưng người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, NXB Dân trí, Hà Nội.

[21] An Nguyên (2013), Việt Nam tiến tới già hóa dân số, Báo Nhân Dân điện tử.

[22] Lê Ngọc Lân (2014), Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội.

[23] Bộ Y tế (2002), Chính sách và giải pháp thực hiện chăm sóc sức khỏe, NXB, Y học Hà Nội

[24] Nguyễn Quốc Anh, CN Phạm Minh Sơn (2006), Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi việt nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng, Tổng Cục Dân số "Dân số & Phát triển" Số 5(62) – 2006.