Công tác xã hội (CTXH) là một nghề cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho các đối tượng khó khăn, yếu thế trong xã hội. Với sứ mạng giảm thiểu những rào cản, sự bất công và bất bình đẳng; nghề CTXH đã và đang có vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của mỗi quốc gia, đất nước. Ngoài tinh thần tương thân, tương ái, nghề CTXH hoạt động phải dựa trên nền tảng khoa học và cơ sở pháp lý của Nhà nước. 

Trước đây, CTXH ở Việt Nam được sử dụng nhiều trong các phong trào, hoạt động trợ giúp cho các đối tượng không may gặp phải những hoàn cảnh éo le trong cuộc sống như: khuyết tật, mồ côi, nghèo đói, có người thân bị chết hoặc tài sản bị cuốn trôi do lũ lụt… Từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, các dịch vụ CTXH vẫn liên tục được cung cấp thông qua hoạt động của nhiều cơ quan, ban ngành, đoàn thể như: ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Chữ thập đỏ, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên… Tuy nhiên, nghề CTXH chuyên nghiệp ở Việt Nam chỉ được hình thành và phát triển sâu rộng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trên cả nước kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020. Như vậy, trong nhiều năm qua, đội ngũ nhân viên CTXH làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo một cách bài bản các kiến thức, kỹ năng nghề cần thiết về CTXH.

Hiện nay số người cần được cung cấp dịch vụ CTXH ở nước ta chiếm tỉ lệ 20% dân số, trong đó có khoảng 9,2 triệu người cao tuổi; 7,2 triệu người khuyết tật; 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; gần 8% hộ nghèo trên cả nước; 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa; 234 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện; 204 nghìn người nghiện ma túy; khoảng 30 nghìn nạn nhân bạo lực, bạo hành trong gia đình. Ngoài ra, nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại và hiện lang thang kiếm sống trên đường phố cũng rất cần đến sự trợ giúp từ hoạt động của những người làm nghề CTXH. Có thể thấy rằng, các nhóm đối tượng của dịch vụ CTXH trải rộng trên nhiều lĩnh vực trợ giúp và bảo trợ xã hội. Để chăm sóc, trợ giúp tốt hơn cho các đối tượng khó khăn, yếu thế nêu trên, Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020 đã đề ra nhiều nội dung, hoạt động như: xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về CTXH; củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH và đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH; xây dựng, hoàn thiện chương trình, nội dung đào tạo và dạy nghề CTXH; tuyên truyền nâng cao nhận thức về nghề CTXH… Đặc biệt, để hiện thực hóa các nội dung, hoạt động của đề án; Chính phủ và các Bộ ngành đã ban hành một số văn bản quan trọng quy định về mã số ngạch, chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH; tiêu chuẩn đạo đức, nghiệp vụ của cán bộ, viên chức, nhân viên CTXH ở các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH… Đây là sự cố gắng lớn của Chính phủ và các bộ ngành trong việc phát triển nghề CTXH ở Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có một số nội dung chưa được triển khai như quy định về thủ tục giải quyết, quy trình cung cấp dịch vụ CTXH đối với cá nhân, nhóm và cộng đồng vẫn chưa được thực hiện; dẫn đến tước quyền chăm sóc của các đối tượng trong trường hợp phụ nữ, trẻ em và đối tượng khác bị xâm hại, bị bạo hành gây hậu quả nghiêm trọng. Hơn nữa, một số văn bản ban hành nhưng vẫn chưa có hiệu lực trong thực tế như mã số ngạch, chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH; dẫn đến những người làm CTXH nhưng vẫn chưa được công nhận chức danh, ngạch viên chức CTXH và hưởng một số quyền lợi có liên quan theo quy định của pháp luật. Đây là những bất cập cản trở sự phát triển của nghề CTXH theo hướng chuyên nghiệp ở Việt Nam. Vì vậy, trong thời gian tới cần:

Thứ nhất, thay đổi quan điểm coi CTXH chỉ là những hoạt động nhân đạo, từ thiện đơn thuần mà phải công nhận CTXH là một ngành khoa học, một nghề chuyên nghiệp hoạt động trên cơ sở vận dụng các kiến thức, kỹ năng, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp vào thực hiện các phương pháp khác nhau để giúp các đối tượng (cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng) nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề, hướng tới sự phát triển bền vững, lâu dài.

Thứ hai, áp dụng các quy định về mã số ngạch, chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH để những người làm CTXH được thừa nhận nghề, công việc mà mình đang theo đuổi; đồng thời đảm bảo quyền lợi cho họ để họ yên tâm cống hiến nhiều hơn nữa cho sự đảm bảo an sinh xã hội cho các đối tượng khó khăn, yếu thế trong xã hội.

Thứ ba, rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về quy định thủ tục và trình tự cung cấp dịch vụ CTXH của viên chức, nhân viên CTXH nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng yếu thế, có hoàn cảnh khác biệt hoặc đang gặp phải những điều kiện khó khăn trong cuộc sống.

Thứ tư, nghiên cứu và quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ CTXH. Việc ban hành tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ CTXH có vai trò quan trọng đối với việc phát triển CTXH hiệu quả và bền vững theo hướng cung cấp ngày càng nhiều hơn, chất lượng hơn các dịch vụ CTXH cho các đối tượng khó khăn, yếu thế; giúp họ gạt bỏ các rào cản, vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.

Thứ năm, rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quy định vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ, viên chức, nhân viên CTXH bao gồm một số Bộ luật, Luật như Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật lao động, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Thanh niên, Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS). Nội dung xây dựng pháp luật này có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về nghề CTXH, bảo đảm sự thống nhất, sự tương quan với các chính sách về nghề nghiệp trợ giúp xã hội khác (chẳng hạn, trợ giúp pháp lý) và sẽ từng bước góp phần nâng cao chất lượng tổng thể dịch vụ CTXH và đảm bảo sự hài hòa giữa các chính sách an sinh xã hội.

Ban truyền thông